Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022

3 yếu tố quan trọng giúp trẻ đọc tiếng Anh lưu loát


Tập đọc là bước đầu tiên trẻ cần được hướng dẫn để dần dần có thể đọc lưu loát. Và kỹ năng đọc là kỹ năng và cũng là yêu cầu cần thiết cho trẻ tiếp nhận tri thức.

3 yếu tố hình thành nên khả năng đọc bất kỳ ngôn ngữ nào, không chỉ riêng tiếng Anh, gồm:

1.    Nhận diện ký tự âm (Phonemic Awareness)

Theo Bảng phiên âm quốc tế (IPA – International Phonetic Alphabet) thì có 44 âm (gồm 20 nguyên âm và 24 phụ âm), tương ứng với 44 ký tự âm (phonetic symbols). Số lượng âm có thể khác tuỳ theo chất giọng của mỗi quốc gia, vùng miền nói tiếng Anh. Ví dụ trong hệ thống âm của người Mỹ thì chỉ có 15 nguyên âm, ít hơn bảng IPA 5 âm, nhưng vẫn có 24 phụ âm giống như IPA.


Để đọc được tiếng Anh, người học cần nhận diện và phát âm được 44 âm này. Tuỳ theo độ tuổi và khả năng tiếp nhận thông tin của trẻ mà người dạy sẽ từ từ giới thiệu toàn bộ số ký tự âm này cho trẻ dần nắm được. 

Phát âm thành thạo các âm này là nền tảng và cũng là bước đầu cần hoàn thành để trẻ dần hình thành khả năng nghe chuẩn, nói chuẩn.

2.    Đánh vần – Viết và Đọc phiên âm (Phonics Skills) 

Đánh vần là khả năng phiên dịch từ mặt chữ sang ký tự âm để phát âm, hay còn gọi là khả năng viết phiên âm và đọc phiên âm. Tại sao lại cần đánh vần?

Với tiếng Việt, mỗi chữ cái đại diện cho 1 âm duy nhất. Khi đánh vần tiếng Việt, ta ghép các âm để tạo lên các vần, các từ. Tương tự, đối với tiếng Anh chúng ta cũng cần ghép các âm với nhau để tạo lên các âm tiết và từ. Tuy nhiên, khác với tiếng Việt, mỗi chữ cái tiếng Anh có thể đại diện cho nhiều âm. Ví dụ chữ [O] có thể đọc thành nhiều âm khác nhau như bảng dưới:

Từ chứa O

To

So

On

Of

Woman

Women

Work

Cách đọc O

/u:/

/ou/

/ɒ/

/ə/

/u/

/i/

/ɜː/

Do đó, để đọc đúng một từ, ta cần xác định được chính xác âm mà từng chữ cái trong từ biểu thị. Đây chính là khả năng tự viết phiên âm từ. 

Thông thường, người học tiếng Anh sẽ tra từ điển để biết nghĩa và phiên âm của từ. Tuy nhiên, không ít người khi nhìn phiên âm vẫn đọc sai do không phân biệt được sự khác biệt giữa âm nhấn trọng âm và âm không nhấn trọng âm.

Trọng âm từ, trọng âm cụm từ và trọng âm câu là yếu tố quan trọng bậc nhất trong tiếng Anh. Khi ta đọc hoặc nói sai trọng âm thì nghĩa và cảm xúc ta muốn biểu đạt cũng sẽ khác đi.

3.    Học “từ vựng vỡ lòng” (Sight Words)

Khái niệm “Sight words” dùng để chỉ những từ đơn giản, phổ biến nhưng bất quy tắc về phiên âm nên phải học thuộc. Những từ này xuất hiện gần như trong mọi tình huống giao tiếp bằng lời hoặc bằng văn bản.

Trẻ nhỏ có thể học những từ này bằng mắt, nghe và nhắc lại để hiểu và ghi nhớ mà không cần biết quy tắc để đánh vần.

Từ đặc tính đó, chúng tôi tạm chuyển ngữ khái niệm này là “từ vựng vỡ lòng”.

Với khoảng 100 từ vựng vỡ lòng đầu tiên đã có thể tạo lên hơn 50% số từ trong các bài đọc ở cấp độ ban đầu. Với khoảng 300 từ vựng vỡ lòng có thể tạo 75% số từ trong các bài đọc ở cấp độ cao hơn. Do đó, học thuộc lòng các từ này sẽ giúp trẻ đọc hiểu tốt hơn, trôi chảy hơn.

Học thuộc càng nhiều từ vựng vỡ lòng càng giúp trẻ hứng thú và tự tin học tiếng Anh.

Để giúp trẻ học các từ vựng vỡ lòng này dễ dàng và hứng thú thì cha mẹ và thầy cô có thể cho trẻ học qua các câu chuyện nho nhỏ, có vần như các bài vè vui vẻ. Tuy nhiên, tài liệu học cần có chữ to, rõ ràng, hình ảnh minh hoạ bắt mắt. Và yếu tố quan trọng khác đó là phát âm của cha mẹ, thầy cô cần phải chuẩn để trẻ tiếp nhận được đúng âm.

Hiểu rõ được tầm quan trọng của 3 yếu tố tạo nên khả năng đọc tiếng Anh lưu loát gồm nhận diện được ký tự âm, đọc đúng phiên âm và học thuộc từ vựng vỡ lòng (sight words) sẽ giúp cha mẹ cùng trẻ học tiếng Anh tốt hơn. Hy vọng bài viết này đã phần nào giúp cha mẹ giải đáp được băn khoăn nên cho trẻ học gì khi bắt đầu tiếp xúc với tiếng Anh.

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Một dẫn nhập về phát âm tiếng Anh

Người học tiếng Anh thường đặt ra câu hỏi là không biết bắt đầu từ đâu? Học tiếng Anh là học cái gì? 

Nếu suy xét kỹ thì không chỉ riêng tiếng Anh, khi học bất kỳ một ngôn ngữ nào, chúng ta đều bắt đầu từ học nói. Điều này hoàn toàn tự nhiên như một em bé tập nói. Mục tiêu cuối cùng của học ngôn ngữ là để giao tiếp. Theo đó, bốn kỹ năng cần đạt được theo tiến trình tự nhiên là nghe, nói, đọc, viết. Nhiều người nhầm hiểu giao tiếp là chỉ có nghe nói, như thế là chưa đầy đủ. 

Nghe được thì mới nói được. Đọc được thì mới viết được. Nghe được, nói được mà không đọc được, không viết được thì bị gọi là “mù chữ”. 

Học nghe chính là học cảm âm (cảm nhận âm thanh). Cảm được âm là nghe và biết cách tạo ra âm giống như âm đã nghe.

Chữ viết được phát minh ra nhằm thể hiện âm thanh (hay gọi là ký âm). Tiếng Anh sử dụng bảng chữ cái gồm 26 ký tự Latinh để tạo ra chữ viết, ký âm cho 44 âm (phonemes). Theo đó, học đọc chính là tập nhận diện âm được chữ cái thể hiện trong mỗi từ. Ở đây mới chỉ xét tới việc đọc (phát âm) đúng từ, chưa xét tới nghĩa của từ.

Để dễ hình dung mối liên hệ giữa âm thanh (the sound of English) và chữ viết (spelling – the appearance of English), chúng ta liên tưởng tới việc học âm nhạc. Bảy nốt nhạc cơ bản là “Đồ, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si” được thể hiện bởi các “chấm” trên khuông nhạc chính là “chữ viết” giúp ca sĩ, nhạc sĩ nhận biết các “âm” cần phải tạo ra.

So sánh đôi chút giữa tiếng Anh và âm nhạc:

 

Tiếng Anh

Âm nhạc

Số lượng âm

44 âm theo IPA

7 nốt cơ bản

Thể hiện âm

Phiên âm

Chấm trên khuông nhạc

Ký âm

Kết hợp 26 Chữ cái

Đồ, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si


Như diễn giải trên thì ta đã biết phải bắt đầu học kỹ năng gì trước tiên rồi. Đó chính là phát âm, học cách nhận diện ký tự âm và tạo ra âm tương ứng với ký tự âm đó.

Sau khi thành thục phát âm thì người học cần làm chủ thêm các chủ đề như nói rút gọn, nói dạng yếu của từ, nối âmngữ điệu. Đó là tất cả những gì cần phải học để có thể làm chủ 2 kỹ năng nghe và nói tiếng Anh.

Dạng yếu của từ (weak forms)

Trong câu có 2 loại từ: từ mang nội dung (content words) và từ mang tính chức năng ngữ pháp (function words). Những từ mang nội dung sẽ được nói nhấn mạnh. Những từ mang tính chức năng thường không được nhấn mạnh, tức là chúng thường được nói lướt qua với giọng nhẹ hơn (de-emphasize). Đấy gói là dạng yếu của từ.

Các từ loại được nói nhẹ đi gồm:

- Đại từ: I, you, we, they, her, his ...

- Động từ to be: am, are, is, was, were.

- Động từ khuyết thiếu: can, could, may, might, should, ...

- Trợ động từ: do, does, will, have, ...

- Giới từ: on, in, at, from, for, with, to, ...

- Liên từ: as, for, that, than, so, ...

Dưới đây là bảng từ và dạng yếu của từ phổ biến:

Từ

Dạng nhấn

Dạng yếu

 

Từ

Dạng nhấn

Dạng yếu

a

/ei/

/ə/

 

as

/æz/

/əz/

an

/æn/

/ən/

 

and

/ænd/

/ənd/, /ən/

the

/ðiː/

/ðə/

 

but

/bʌt/

/bət/

some

/sʌm/

/səm/

 

has

/hæz/

/həz/, /əz/

am

/æm/

/əm/

 

have

/hæv/

/həv/, /əv/

are

/ɑːr/

r/

 

had

/hæd/

/həd/, /əd/

was

/wɒz/

/wəz/

 

does

/dʌz/

/dəz/

were

/wɜːr/

/wər/

 

do

/du:/

/də/

is

/ɪz/

/z/, /s/

 

for

/fɔːr/

/fər/

her

/hɜːr/

/hə r/, /ə r/

 

upon

/əˈpɒn/

/ə.pən/

him

/hɪm/

/ɪm/

 

to

/tuː/

/tə/

them

/ðem/

/ðəm/

 

of

/ɒv/

/əv/

us

/ʌs/

/əs/

 

from

/frɒm/

/frəm/

shall

/ʃæl/

/ʃəl/

 

at

/æt/

/ət/

can

/kæn/

/kən/

 

than

/ðæn/

/ðən/

must

/mʌst/

/məst/, /məs/

 

that

/ðæt/

/ðət/

will

/wɪl/

/wəl/

 

there

/ðeə/

/ðər/

he

/hi:/

/hi/, /i/

 

would

/wʊd/

/wəd/

she

/ʃiː/

/ʃi/

 

could

/kʊd/

/kəd/

you

/juː/

/jə/

 

 

 

 

3 yếu tố quan trọng giúp trẻ đọc tiếng Anh lưu loát

Tập đọc là bước đầu tiên trẻ cần được hướng dẫn để dần dần có thể đọc lưu loát. Và kỹ năng đọc là kỹ năng và cũng là yêu cầu cần thiết cho t...