Thứ Năm, 19 tháng 5, 2022

Động lực – Sức mạnh lý trí hay cảm xúc?

Điều gì khiến ta bật dậy ra khỏi giường, xỏ giầy chạy bộ và ra khỏi nhà lúc 6h sáng hoặc thậm chí là sớm hơn?

Điều gì khiến ta chăm chỉ, cặm cụi làm việc 10 hoặc thậm chí là 12 tiếng một ngày?

Điều gì khiến ta bước vào văn phòng làm việc dù rằng mình chán ngán công việc và ghét sếp vô cùng?

Khi hỏi “điều gì” trong các thắc mắc trên cũng chính là ta đang ám chỉ tới một thứ “động lực” thúc đẩy ta hành động. Có cái ta thích làm và khi làm thì vui vẻ, tràn đầy năng lượng. Cũng có cái ta không thích làm và khi làm thì chán nản, năng lượng tiêu tán. Thế nhưng, ta vẫn phải làm.

Vậy thì, “động lực” để ta hành động là gì và đến từ đâu? Do lý trí hay cảm xúc của ta tạo ra?

Thoạt đầu ta nhận thấy rằng do ta mong muốn có được một cảm giác thỏa mãn nên ta quyết định làm một việc nào đó mà ta cho là nên làm. Cảm giác đó là thứ ta muốn đạt được sau khi hoàn thành một việc nào đó?

Động lực phải chăng chính là mục tiêu mà ta muốn đạt được?

Ví dụ, ta hình dung ra một cơ thể khỏe mạnh với gương mặt tươi sáng và nó khích lệ ta dậy sớm tập thể dục mỗi sáng, duy trì chế độ dinh dưỡng “heo-thỳ”. Cơ thể khỏe mạnh chính là mục tiêu, cũng chính là động lực cho ta hành động. Đây là dạng mệnh lệnh giả thiết(1) “Nếu bạn muốn X, hãy làm Y”. Điều làm ta quan tâm tiếp theo đó là “tại sao ta lại muốn X?”. Cảm xúc nào hay suy nghĩ nào thúc đẩy ta muốn X? Cụ thể, với ví dụ trên thì câu hỏi sẽ trở thành “tại sao ta muốn có một cơ thể khỏe mạnh? Câu hỏi này có vẻ thật ngớ ngẩn! Khỏe mạnh là trạng thái tự nhiên cần có của một cơ thể sống, thiếu đi sự khỏe mạnh thì cơ thể trở thành ốm yếu và dần đi tới cái chết nếu không thể trở lại trạng thái khỏe mạnh kịp thời. Vậy thì khỏe mạnh là một mệnh lệnh nhất quyết(2) dạng “ta phải khỏe mạnh”, ta không có lựa chọn nào khác, trừ khi ta muốn chết. Từ đây ta có thể nhận định rằng, khi ta đã suy nghĩ thấu triệt và khẳng định “X là thứ ta cần phải có” thì X chính là động lực cho ta hành động.

Nếu động lực cũng chính là mục tiêu ta muốn đạt được và nó được sinh ra từ suy nghĩ, tư duy của ta thì có ai giúp ta xác định nó thay ta được không? Có ai có thể truyền động lực, truyền mục tiêu cho ta được không? Nếu ai đó cho ta một mục tiêu để ta hướng đến thì đó là khi ta sống vì mục tiêu của họ chứ không phải mục tiêu của ta. Nếu ta nghĩ ai đó đang truyền động lực cho mình thì đó chỉ là một chút cảm xúc của họ lan truyền sang ta và làm ta hưng phấn nhất thời mà thôi. Cảm xúc hưng phấn đó sẽ mau chóng tan biến. Nó ngắn ngủi như giây phúc thăng hoa khi bạn làm tình vậy. Nó ngây ngất đấy nhưng nó vụt qua mau chóng và để lại một cảm giác ê chề, mỏi mệt. Nếu bạn chưa có trải nghiệm này thì có liên tưởng tới một trải nghiệm mua hàng mà bạn đã từng có. Một diễn giả nổi tiếng, hấp dẫn nào đó hay chỉ đơn giản là một người bán hàng cuốn hút có khả năng đẩy cảm xúc của bạn lên cao trào khiến bạn lập tức đưa ra quyết định mua hàng. Thế nhưng sau đó, có thể là một vài giờ hoặc một vài ngày, bạn nhận ra là mình không thực sự cần thứ hàng hóa, dịch vụ đó, cho dù nó không hoàn toàn vô dụng. Thế rồi bạn cho rằng mình như thể đã bị thôi miên khi mua hàng vậy. Rất có thể bạn đã đúng đấy. Chẳng phải trong kinh doanh người ta vẫn luôn dạy nhau kỹ năng chốt sales một cách nhanh chóng khi cảm xúc của khách hàng đang hưng phấn đó thôi. Với triết gia Immanuel Kant thì đây được coi là một hành vi phi đạo đức vì người mua hàng đã bị “bỏ bùa” mà mình không hề biết. Có vẻ như cũng có trường hợp dù biết mình đang bị bỏ bùa nhưng vẫn quyết định mua hàng. Dù sao thì chúng ta có toàn quyền lựa chọn mục tiêu ta muốn đạt được và cuộc sống ta muốn sống dựa trên suy nghĩ, tư duy của chính ta.

(1), (2) Mệnh lệnh giả thiết và mệnh lệnh nhất quyết là 2 khái niệm do triết gia Immanuel Kant đưa ra.

Quy tắc phân tách âm tiết

Từ viết tắt:

V – Vowel: Nguyên âm

C – Consonant: Phụ âm

Quy tắc 1: Trong từ có dạng VCV (1 phụ âm kẹp giữa 2 nguyên âm), ta chia thành 2 trường hợp:

-    TH1: Nếu nguyên âm trước phụ âm là nguyên âm dài thì ghép phụ âm với nguyên âm sau phụ âm thành V+CV. Âm tiết phía trước là âm tiết mở, âm tiết phía sau là âm tiết đóng. Trường hợp này phổ biến hơn trường hợp 2.

- TH2: Nếu nguyên âm trước phụ âm là nguyên âm ngắn thì ghép phụ âm với nguyên âm trước phụ âm thành VC+V. Âm tiết phía trước là âm tiết đóng, âm tiết phía sau là âm tiết mở.

Quy tắc 2: Trong từ có dạng VCCV (2 phụ âm kẹp giữa 2 nguyên âm), ta tách âm thành VC+CV, tức là tách giữa 2 phụ âm liền nhau.

Lưu ý: Giữ nguyên phụ âm ghép (như th, sh, ch, ph), đơn vị âm (ing, ink, ang, ank, ost, olt, ind, ilt, olt) và cụm phụ âm + R/L (như fr, br, fl, bl,…).

Hai âm tiết tách được đều là âm tiết đóng nên nguyên âm trong mỗi âm tiết sẽ là nguyên âm ngắn.

Với cụm phụ âm + R/L ta sẽ giữ nguyên và ghép chúng với nguyên âm phía sau. Âm tiết phía trước là âm tiết mở nên nguyên âm sẽ là nguyên âm dài (tương ứng với tên gọi của nguyên âm). Âm tiết phía sau là âm tiết đóng nên nguyên âm sẽ là nguyên âm ngắn. Ví dụ từ “secret” sẽ được tách thành 2 âm tiết /se/-/cret/.

Quy tắc 3: Trong từ có dạng VCCCV (3 phụ âm kẹp giữa 2 nguyên âm), ta thường tách âm sau phụ âm thứ nhất thành VC+CCV.

Quy tắc 4: Trong từ có dạng VCCCCV (4 phụ âm kẹp giữa 2 nguyên âm), ta thường tách âm sau phụ âm thứ nhất thành VC+CCCV.

Quy tắc 5: Trong từ có dạng C+LE thì ta tác CLE là 1 âm tiết.

Quy tắc 6: Với từ ghép thì ta tách thành các từ đơn.

Quy tắc 7: Với từ có tiền tố và hậu tố thì ta tách thành tiền tố, từ gốc và hậu tố.

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2022

Làm thuê, làm chủ

Làm thuê là dành thời gian, công sức của bản thân để hoàn thành công việc cho một người, một tổ chức khác. Thứ mình nhận lại đó là “tiền công, tiền lương”.

Làm chủ là dành thời gian, công sức của bản thân và người khác để hoàn thành công việc cho một hoặc nhiều người, nhiều tổ chức. Những người và tổ chức này được gọi là khách hàng. Thứ mình nhận lại đó là tiền với tên gọi là “doanh thu”.

Như vậy làm thuê hay làm chủ chỉ khác nhau về quy mô nhưng giống nhau về bản chất.

Bản chất đó là dùng thân lực và trí lực để hoàn thành công việc hay tạo ra sản phẩm nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Sản phẩm có thể là hàng hóa hoặc dịch vụ. Nếu sản phẩm đó phục vụ hay đem lại giá trị, niềm vui cho càng nhiều người thì thứ nhận lại (thường là tiền) sẽ càng nhiều.

Làm thuê thì một thân, một mình là có thể đủ sức lực phục vụ cho thân chủ rồi, không cần ai hỗ trợ. Cùng lắm thì bạn gái hoặc vợ nấu cho bữa cơm, giặt là cho bộ quần áo, trao một cái ôm, một nụ hôn hoa hồng khích lệ mỗi sáng là xong. Nhưng làm chủ thì phải cần nhiều người khác hỗ trợ để có thể phục vụ được nhiều khách hàng. Những người hỗ trợ được gọi là nhân viên.

Nhân viên thường có mong ước trở thành ông chủ vì ông chủ có quyền và nhiều tiền, thậm chí là có nhiều bồ trẻ đẹp. Thay vì mong ước trở thành ông này bà kia thì mình đổi thành mong ước đem lại giá trị, niềm vui cho nhiều người có lẽ là hay hơn, đúng bản chất tự nhiên của nó hơn.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

Âm tiết: 6 loại âm tiết và chức năng của chúng

Âm tiết là 1 đơn vị âm. Xét về mặt phiên âm (âm thanh), mỗi âm tiết sẽ gồm 1 nguyên âm, có thể có thêm phụ âm ghép với nguyên âm. Phụ âm có thể đứng trước, sau hoặc cả trước sau nguyên âm.

Để dễ hình dùng, khi phát âm 1 âm tiết thì cằm sẽ hạn xuống 1 lần. Như vậy, số âm tiết của 1 từ sẽ tương đương với số lần cằm hạ xuống.

Xét mặt chữ, những từ có nguyên âm và phụ âm đan xen nhau (ví dụ từ “enter”) thì số âm tiết sẽ tương ứng với số nguyên âm.

Với trường hợp này cần chú ý:

-        Chữ cái [e] đứng cuối từ thường không tính là 1 âm tiết. Ngoại trừ các từ kết thúc bởi [le] được phiên âm thành /əl/ - đây là 1 âm tiết.

-        Chữ cái [y] đứng giữa hoặc cuối từ được phiên âm thành nguyên âm /i/.

Những từ có hai hoặc nhiều hơn hai nguyên âm liền nhau (ví dụ “variety”) thì không có quy tắc cố định để xác định số âm tiết. Ta buộc phải đọc nhiều để thành quen.

Âm tiết giúp ta viết và đọc chuẩn từ tiếng Anh. Một từ tiếng Anh có thể có 1 hoặc nhiều âm tiết.

Có 6 loại âm tiết khác nhau giúp xác định trọng âm của từ và giúp ghép vần. Hiểu mỗi loại âm tiết và cách chúng ảnh hưởng lên một từ sẽ giúp học thành thạo tiếng Anh. Phát âm chuẩn mỗi âm tiết sẽ quyết định phát âm chuẩn từ tiếng Anh.


Vào những năm 1800, nhà cải cách ngôn ngữ người Mỹ Noah Webster đã phân loại ra 6 loại âm tiết khác nhau cho tiếng anh Mỹ vẫn còn áp dụng tới tận ngày nay.

1.  Âm tiết đóng (closed syllable)

Đây là loại âm tiết phổ biến nhất.

Nếu một âm tiết chứa một nguyên âm ngắn (short vowel) (ví dụ từ cat, hat, cut, bet) thì nó phải kết thúc với một phụ âm.

Âm tiết phía sau bắt đầu bằng một phụ âm thì mỗi phụ âm thuộc về 1 âm tiết. Ví dụ từ happen sẽ có 2 âm tiết “hap-” và “-pen”. Mặc dù 1 phụ “p” là câm nhưng nó cho biết cần phải có 1 phụ âm “p” phía sau âm “short a”. Điều này rất hữu ích để viết đúng chính tả từ.

2. Âm tiết mở (open syllable)

Âm tiết mở là âm tiết kết thúc bởi một nguyên âm dài. Ta có thể diễn đạt lại là nếu nguyên âm đứng cuối một âm tiết thì nguyên âm đó là một nguyên âm dài.

Ví dụ: she, me, he, go; spider, bonus, slogan.

Âm tiết mở có thể là 1 từ hoàn chỉnh hoặc nằm trong 1 từ nhiều âm tiết.

Theo sau âm tiết mở thường không phải gấp đôi phụ âm.

3. Âm tiết có dạng VCe (Vowel-Consonant-e)

V-là nguyên âm dài.

C-phụ âm đơn.

e-âm câm.

Ví dụ: bare, care, woke, cute.

4. Âm tiết có từ 2 nguyên âm trở lên (vowel team).

Như vậy, loại âm tiết này chứa một nhóm từ 2 nguyên âm trở lên (tạm gọi là nhóm nguyên âm).

Nhóm nguyên âm này có thể tạo nên âm dài, âm ngắn hoặc âm ghép.

Vì thế, đây là loại âm tiết khó xác định khi tách âm tiết và cũng khó khi viết chính tả.

Ví dụ:

            Từ “boat” có nhóm nguyên âm “oa” tạo nên một âm, “o” và “a” không còn là hai âm riêng biệt.

            Từ “beautiful” có nhóm nguyên âm “eau” tạo nên một âm; “e”, “a” và “u” không còn là ba âm riêng biệt.

            Ví dụ khác: Monday, tie, look, read, toast, …

5. Âm tiết có nguyên âm + R (vowel-r)

Các nguyên âm này khi phát âm ra chịu sự tác động (điều khiển) của phụ âm /r/.

Ví dụ từ: charm, store, start, word.

6. Âm tiết có phụ âm + le (C-le)

Loại âm tiết này chỉ xuất hiện ở cuối từ.

[le] phiên âm là /əl/.

Ví dụ từ: apple, title, little, syllable.

3 yếu tố quan trọng giúp trẻ đọc tiếng Anh lưu loát

Tập đọc là bước đầu tiên trẻ cần được hướng dẫn để dần dần có thể đọc lưu loát. Và kỹ năng đọc là kỹ năng và cũng là yêu cầu cần thiết cho t...